Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên giáo dục tỉnh Nam Định.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

Tự chọn Ngữ văn 8

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Thu Hà (trang riêng)
Ngày gửi: 18h:39' 17-06-2008
Dung lượng: 226.0 KB
Số lượt tải: 1712
Số lượt thích: 0 người
Tiết1,2,3,4

Chủ đề 1
Tập làm văn - Văn bản

Tiết 1: Chủ đề của văn bản

1. Chủ đề là gì?
- Chủ đề là đối tượng và vấn đề chính (chủ yếu) mà văn bản biểu đạt.
- Đối tượng mà văn bản biểu đạt có thể là người, vật hay một vấn đề nào đó. Còn vấn đề chính mà văn bản biểu đạt có thể là một tư tưởng, một quan niệm xuyên suốt được tác giả nêu trên trong văn bản.
Chẳng hạn, chủ đề của văn bản Tôi đi học là tâm trạng, hồi hộp, cảm giác ngỡ ngàng và trang trọng của nhân vật "tôi" trong buổi tựu trường đầu tiên.
Chủ đề của văn bản Tắt đèn là vạch trần bộ mặt tàn bạo bất nhân của tầng lớp phong kiến thống trị, của chế độ thực dân phong kiến đương thời, nói lên nỗi thống khổ cùng cực của người nông dân lao động bị áp lực, và thể hiện vẻ đẹp tâm hồn cũng như sức sống tiềm tàng mạnh mẽ của người phụ nữ nông dân, ngay cả khi họ bị vùi dập trong bùn đen.
2. Phân biệt chủ đề với đề tài và đại ý
- Chủ đề và đề tài tuy có mối liên hệ nội tại nhưng cần có sự phân biệt. Đề tài là các hiện tượng đời sống, là phạm vi đối tượng được miêu tả, phản ánh, nhận thức trong tác phẩm, là một phương diện trong nội dung của nó. Nội dung đề tài gắn với việc xác lập chủ đề của tác phẩm. Trái lại, chủ đề của tác phẩm bao giờ cũng được hình thành và thể hiện trên cơ sở đề tài. Trong phần lớn các tác phẩm trữ tình, đề tài gần như trùng với chủ đề. Tuy nhiên, chủ đề là vấn đề cơ bản, vấn đề trung tâm được nêu lên, đặt ra xuyên suốt nội dung cụ thể của tác phẩm, cho nên chủ đề có nội dung bao quát hơn đề tài.
Chẳng hạn, chủ đề của tác phẩm Tắt đèn như đã khái quát ở trên. Còn đề tài của Tắt đèn là cuộc sống bế tắc cùng cực của người nông dân trong chế độ thực phân phong kiến tàn bạo trước Cách mạng.
Nói chung, đề tài giúp ta xác định tác phẩm viết về cái gì? Còn chủ đề nhằm giải đáp câu hỏi tác phẩm đặt ra vấn đề cơ bản gì? Trong làm văn, khái niệm chủ đề được hiểu bao gồm cả nội dung đề tài.
- Chủ đề là vấn đề chủ yếu, xuyên suốt văn bản tác phẩm. Cho nên một khổ thơ, đoạn thơ, một đoạn văn, đoạn trích hay một phần của truyện chưa hình thành được chủ đề mà chỉ biểu đạt những ý lớn, thường được gọi là đại ý.
Chẳng hạn, đoạn trích Trong lòng mẹ (Trích Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng) có thể chia làm hai phần. Phần 1 (từ đầu đến "và này cũng còn phải có họ, có hàng, người ta hỏi đến chứ?") đại ý: tâm địa độc ác, cay nghiệt, tàn nhẫn của nhân vật người cô đối với chú bé Hồng. Phần 2 (đoạn còn lại) đại ý: tình yêu thương mãnh liệt của chú bé Hồng đối với người mẹ bất hạnh của mình.
Bài Rừng cọ quê tôi có thể chia làm ba phần. Phần 1 (câu mở đầu) đạy ý: tác giả giới thiệu "rừng cọ trập trùng" làm nên vẻ đẹp không nơi nào bằng của "sông Thao quê tôi". Phần 2 (ba đoạn văn tiếp theo) đại ý: tả cây cọ, rừng cọ và cuộc sống của người dân gắn bó với cây cọ. Phần 3 (đoạn còn lại) đại ý: người sông Thao đi đâu cũng nhớ về rừng cọ quê mình. Chủ đề được thể hiện qua Rừng cọ quê tôi là: tác giả miêu tả rừng cọ như một vẻ đẹp của vùng sông Thao, qua đó thể hiện tình cảm gắn bó, yêu mến của tác giả cũng như người sông Thao đối với quê nhà.
3. Tính nhiều chủ đề của văn bản:
- Một văn bản tác phẩm có thể gồm một hoặc nhiều chủ đề (đa chủ đề), vì trong một tác phẩm, tác giả có thể viết về một hoặc nhiều đối tượng, có thể đặt ra một hoặc hàng loạt vấn đề.
- ở những tác phẩm có nhiều chủ đề, người ta thường phân biệt chủ đề chính và các chủ đề phụ. Chủ đề chính được xem là vấn đề bao quát nhất, chủ yếu nhất, còn chủ đề phụ là những vấn đề có ý nghĩa nhỏ hơn, thứ yếu hơn và có liên quan chặt chẽ với chủ đề chính.
Chẳng hạn, chủ đề chính của bài thơ Ngắm trăng trong Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh là tình yêu thiên nhiên đặc biệt sâu sắc của tác giả. Bên cạnh đó còn có chủ đề khác như: vẻ đẹp của một tâm hồn nghệ sĩ rất nhạy cảm trước vẻ đẹp thiên nhiên, đặc biệt là vầng trăng: phong thái ung dung tự tại và sức mạnh tinh thần to lớn của người chiến sĩ cách mạng trong hoàn cảnh tù ngục...
Ông đồ của Vũ Đình Liên là một bài thơ có nhiều chủ đề: đó là tình cảnh đáng thương của những "ông đồ" vào thời tàn của nho học; là niềm cảm thương chân thành trước tình cảnh một lớn người đang tàn tạ trước sự đổi thay của cuộc đời; đó còn là nỗi tiếc nhớ ngậm ngùi những cảnh cũ người xưa nay đã văng bóng...
Tập thơ Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh bao gồm nhiều chủ đề:
+ Phơi bày hiệu thực chế độ nhà tù tăm tối, vô nhân đạo;
+ Những khổ cực đày đoạ của tù nhân;
+ ý chí kiên cường bất khuất của người chiến sĩ cách mạng;
+ Tinh thần lạc quan;
+ Phong thái ung dung tự tại;
+ Lòng khao khát tự do;
+ Lòng yêu nước;
+ Tình yêu thiên nhiên;
+ Lòng thương người;
...
4. Tính thống nhất về chủ đề của văn bản.
- Văn bản có tính thống nhất về chủ đề khi tập trung biểu đạt một chủ đề bao quát (chủ yếu), một tư tưởng xuyên suốt đã được xác định, không xa rời hay lạc sang chủ đề khác.
- Tính thống nhất về chủ đề là một trong những đặc trưng quan trọng tạo nên sự thống nhất chặt chẽ và trọn vẹn của nội dung văn bản. Đặc trưng này liên hệ mật thiết với tính liên kết, mạch lạc của văn bản. Một văn bản không có tính liên kết, thiếu mạch lạc thì không thể bảo đảm tính thống nhất về chủ đề. Mặt khác, chính tính thống nhất về chủ đề làm cho văn bản mạch lạc và liên kết chặt chẽ hơn.
- Tính thống nhất về chủ đề của văn bản thể hiện trên cả hai bình diện: nội dung và cấu trúc - hình thức. Một mặt, tính thống nhất về chủ đề được thể hiện qua sự thống nhất chặt chẽ của nội dung văn bản, tức là văn bản cần phải xác định đối tượng (đề tài) hay vấn đề chính được biểu đạt, cần phải thể hiện một tư tưởng, quan niệm, một cảm xúc nào đấy theo chủ đích của chủ thể văn tạo văn bản. Mọi chi tiết, bộ phận của văn bản đều trực tiếp hoặc gián tiếp biểu hiện vấn đề hay đối tượng phản ánh và chủ đích của chủ thể tạo văn bản.
Mặt khác, tính thống nhất về chủ đề được thể hiện qua cấu trúc - hình thức của văn bản, tức là được thể hiện nhan đề, sự sắp xếp các đề mục, mối quan hệ giữa các phần của văn bản, tính thống nhất của các từ ngừ (nhất là hệ thống từ ngữ chủ đề, các từ ngữ liên kết), của các cấu trúc ngữ pháp (đặc biệt là các câu chủ đề, câu nối liên kết các phần, đoạn) trong văn bản. Tất cả các yếu tố thuộc bình diện cấu trúc - hình thức trên đây đều góp phần quan trọng tạo nên tính thống nhất về chủ đề của văn bản. Vì vậy, khi viết hoặc đọc - hiểu một văn bản, cần xác định chủ đề được thể hiện qua các yếu tố đó.
Chẳng hạn, tính thống nhất về chủ đề của Tôi đi học được thể hiện qua các yếu tố trong văn bản như sau:
- Nhan đề Tôi đi học cho phép dự đoán văn bản nói về chuyện "tôi đi học".
- Các từ ngữ và các câu biểu thị ý nghĩa đi học và nhắc đến những kỉ niệm buổi tựu trường đầu tiên của nhân vậy "tôi" được lặp đi lặp lại nhiều lần trong văn bản:
+ "Hàng năm cứ vào cuối thu,... lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơ man của buổi tựu trường".
+ "Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy...".
+ "Hôm nay tôi đi học".
+ "Hai quyển vở mới đang ở trên tay tôi đã bắt đầu thấy nặng".
+ "... Mẹ đưa bút thước cho con cầm".
+ "Tôi vòng tay lên bàn chăm chỉ nhìn thầy viết và lẩm nhẩm đánh vần ...".
- Các từ ngữ, các chi tiết trong văn bản đều tập trung thể hiện, sự thay đổi tâm trạng, cảm giác mới lạ, bỡ ngỡ của nhân vật "tôi" trong buổi tựu trường đầu tiên:
* Thay đổi cảm nhận:
+ "Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần nay tự nhiên thấy lạ. Cảnh vật chung quanh đều thay đổi...".
+ "Trước đó mấy hôm, ... tôi có ghé lại trường một lần... Tôi không có cảm tưởng nào khác là nhà trường cao ráo và sạch sẽ hơn các nhà trong làng. Nhưng lần này lại khác. Trước mắt tôi trường Mĩ Lí trông vừa xinh xắn vừa oai nghiêm như cái đình làng... Sân nó rộng, mình nó cao hơn...".
+ "Tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn".
+ "Trong thời thơ ấu tôi chưa lần nào thấy xa mẹ tôi như lần này. Tôi cũng lấy làm lạ. Vì có những hôm đi chơi suốt cả ngày với chúng bạn..., lòng tôi vẫn không cảm thấy xa nhà hay xa mẹ tôi chút nào."
* Thay đổi hành vi:
+ "Hôm nay tôi đi học."
+ "Tôi không lội qua sông thả diều... không đi ra đồng nô đùa... nữa."
* Những cảm giác hồi hộp, bỡ ngỡ, lúng túng: "Lòng tôi đâm ra lo sợ vẩn vơ", "bỡ ngỡ đứng nép bên người thân", "chỉ dám nhìn một nữa hay dám đi từng bước nhẹ", "ngập ngừng e sợ", "cảm thấy mình chơ vơ", "vụng về lúng túng", "đã lúng túng... càng lúng túng hơn"," nữ nở khóc"...
Thực hành - luyện tập
1. Đọc văn bản Tôi đi học và thực hiện các yêu cầu sau:
a. Xác định chủ đề của văn bản.
b. Phân đoạn văn bản và nêu ý chính của mỗi đoạn.
c. Tìm các câu văn thể hiện chủ đề văn bản.
d. Trong v
 
Gửi ý kiến